..."Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi. Thậm chí có một vài ý kiến còn cho rằng những bài thơ được xem là của Hồ Xuân Hương hiện nay do nhiều người sáng tác, nghĩa là không có ai thực sự là Hồ Xuân Hương. Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bài thơ được khẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu đã tạm thừa nhận một số kết luận bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ:
Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện
Quỳnh Lưu, tỉnh
Nghệ An. Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan nhưng đến đời Hồ Phi Diễn - thân sinh của bà - thì dòng họ này đã suy tàn.'
Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (sinh 1704) ở làng Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An . Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái. Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc, để kiếm sống. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ - Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của mối tình duyên đó . Bà sống vào thời kỳ cuối
nhà Lê, đầu
nhà Nguyễn, tức 1772-1822. Do đó bà có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng và chứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước
phong kiến.
Bà xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúng lao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội.
Hồ Xuân Hương ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo, vậy tại sao lại có chuyện "
cổ nguyệt đình"?. Bà không dùng chữ nho cũng đâu thể cho rằng bà ít chịu ảnh hưởng của nho giáo, mà phải xem lại xã hội thời đó, bà là một nhà thơ nên cũng là một minh chứng cho xã hội thời đó về mặt nhân sinh quan cũng như về phương diện văn chương.
Bà là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành cũng không được nhiều lắm, bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ở làng thơ văn, các
nhà nho. Nữ sĩ còn là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước.
Là một phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc. (Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn và ông Lê Xuân Giáo thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai:
Tổng Cóc, Ông
Phủ Vĩnh – tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng
Trần Phúc Hiến).
Có thể thấy Hồ Xuân Hương không phải là một phụ nữ bình thường của thời phong kiến mà bà đã có một cuộc sống đầy sóng gió..."
Những dòng trên đây là trích từ tiểu sử của bà trên Wiki.. đọc lại để hiểu một phần thân thế bà chúa thơ Nôm, tuy nhiên điều tôi muốn là tìm hiểu một số bài thơ bà viết với phong cách đặc biệt của mình, những bài thơ mà người ta cho là chứa nhiều "Ẩn ý".
" Hai bên thì núi, giữa thì sông
Có phải đây là Kẽm Trống không
Gió đập cành cây khua lắc cắc
Sóng dồn mặt nước vỗ long bong
Ở trong hang đá hơi còn hẹp
Ra khỏi đầu non đã rộng thùng
Qua cửa mình ơi, nên ngắm lại
Nào ai có biết nỗi bưng bồng"
Trước tiên, tôi khuyên những kẻ tự cho mình "đứng đắn" đừng nên đọc những dòng thơ này, bởi nếu với một cách suy nghĩ trần tục, họ sẽ liên tưởng đến một cái gì khác hẳn điều mà bà Chúa thơ Nôm muốn nói tới, đó là bà tả cảnh hòn Kẽm Trống, một địa danh ở Ninh Bình, một nơi đã từng có phong cảnh Hữu tình gắn với nhiều
giai thoại.
Là người yêu thơ văn, người ta sẽ vô cùng thích thú khi đọc một bài thơ thuần từ Việt, "gió đập cành cây khua lắc cắc. Sóng dồn mặt nước vỗ long bong", một cách tả hình tượng không có gì sống động hơn, điều rất thiếu trong các vị làm thơ theo Nho giáo, người đọc bình dân cảm thấy gần gũi hơn với những tiếng 'lắc cắc' 'long bong' mà tôi thề rằng họ sẽ cảm nhận một cách như nó có mà không suy diễn ra cái hành động mà các nhà 'văn hóa đứng đắn, (tôi tạm gọi thế)' tưởng' thế!!! Thôi khoan hãy nói thêm về những đoạn tiếp theo mà bà tả rất chính xác nhưng cũng rất dí dỏm, để nói rằng bài thơ của Hồ Xuân Hương, theo phong cách riêng của bà đã để lại cho chúng ta một tác phẩm nghiêm túc tả cảnh chân thực, làm tôn vẻ đẹp đất nước lên nhiều lần, bà là một người yêu nước chân chính vậy.
" Thân em như quả mít trên cây,
Vỏ nó xù xì, múi nó dày
Quân tử có thương thì đóng cọc
Xin đừng mân mó, nhựa ra tay"
Đây là bài thư hai tôi muốn nói tới, ta đều biết bà còn nhiều bài thơ nữa theo phong cách HXH, xin lấy bài 'Qủa mít' này để bàn thêm về điều tôi muốn nói.
Bài thơ tả thực về quả mít, trong dân gian, quả mít đúng là có vỏ xù xì, múi dày, muốn ép chín sớm người ta thường đóng cọc vào cuống mít, phơi nắng hoặc vỗ, vài hôm là chín, ăn được. Và quả thật mít có nhựa, chạm vào, hay như bà nói 'mân mó' vào, nhựa dính tay hơi khó chịu. Đọc qua lời lẽ như vậy nhưng không thiếu gì người suy luận sang một vế thứ hai, vế 'tục'. Thật là đạo đức!!! người ta chê bai cái 'tục' đó nhưng lại lao vào nó như điên, như một loài thú khi đêm xuống để sáng ra lên giọng với thiên hạ về cái đạo đức giả rởm đời của mình!!!
Thật ra, khi viết bài thơ này, Hồ thi sĩ muốn qua việc tả quả mít để lên án chế độ phong kiến, nho lại, nơi thân phận người phụ nữ bị coi thường. Người phụ nữ trong chế độ phong kiến bị gò ép trong "Tam tòng ,tư đức" thân phận bị rẻ rúng, làm trò chơi cho đám người có tiền của chức vị, bài thơ cũng là tiếng kêu ai oán về số phận riêng của HXH, mà thế hệ sau, những người khâm phục tài năng và khiếu hài hước của bà không khỏi thương xót cho một tài hoa không được may mắn.
Tuy nhiên, là một người làm thơ Nôm tài ba, có lẽ bà không nên dùng từ 'Quân tử'(từ Hán) mà nên thay bằng một từ thuần Việt, ví dụ như 'Anh giai' hoặc Chú Tèo' chẳng hạn, thì đậm chất Việt hơn, " Anh giai có thương thì đóng cọc" hoặc : "Tèo ơi! có thương thì đóng cọc," hihihi! Rất chuẩn!
Tóm lại, Từ ngữ, chữ nghĩa không có tội, không có khái niệm tục, hay thanh. Tục tĩu, hay thanh cao là do cách nhìn nhận của con người, đầu óc u tối thì thanh cũng thành tục, con người lịch duyệt, biết nhìn nhận cái đẹp thì điều gọi là "tục" thật sự lại là thanh. Điều đó không phải ai cũng nhận thấy, sống đến tóc bạc, răng long mà tâm đục, trí tàn thì đâu còn biết phải trái nữa, Ôi! người đời!!!