Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

Nhớ những chiếc áo tứ thân

*
  Trong các loại trang phục dân tộc Kinh Việt nam.  Chiếc áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ có một vị trí không thể thay thế trong cách ăn mặc của Phụ nữ Việt nam thế kỉ trước.
Loại trang phục này ngày nay chỉ còn xuất hiện trên sân khấu. Thế hệ những người sinh ra vào khoảng những năm 1950, 1960 hẳn vẫn còn lưu lại trong ký ức hình ảnh những bà, những chị ở các vùng quê đồng bằng Bắc bộ mặc những bộ trang phục này. Chiếc áo tứ thân, cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen đã đi vào thơ ca như một truyền thống dân dã, mà nếu có thay đổi đi chút ít là có thể gây nên sóng gió từ phía ..bên kia!

"..Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi
Nào đâu cái yếm lụa sồi
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân.
Nào đâu cái áo tứ thân,
cái khăn mỏ quạ
cái quần nái đen ?
Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa.
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh...

Bài thơ "Chân quê" của Thi nhân Nguyễn Bính mà tôi trích dẫn trên đây. Tạm bỏ qua ý tứ văn chương và giá trị văn học của tác phẩm mà chỉ nói đến sự miêu tả chân thật về hình tượng người con gái nông thôn mộc mạc, chân quê trong nếp áo tứ thân thì ta cũng có thể thấy được giá trị của loại trang phục này trong kí ức người Việt
Cho đến nay, vẫn chưa ai biết rõ được nguồn gốc chính xác của chiếc áo tứ thân. Nếu ngược dòng thời gian tìm về cội nguồn, hình ảnh chiếc áo dài tứ thân Việt với hai tà áo thướt tha trong gió đã được tìm thấy qua các hình khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ cách nay khoảng vài nghìn năm. Theo truyền thuyết kể lại, khi cưỡi voi xông trận đánh đuổi quân Hán. Hai Bà trưng đã mặc áo dài hai tà, giáp vàng, che lọng vàng. Rồi do tôn kính Hai bà, phụ nữ Việt tránh mặc áo hai tà mà thay bằng áo tứ thân. Một lý do khác xem chừng cũng có vẻ hợp lý là thời trước kỹ thuật cắt may còn đơn giản. Vải khổ nhỏ, nên người ta phải ghép bốn mảnh vải lại mới có thể tạo ra được một chiếc áo dài và gọi là áo dài tứ thân. Áo tứ thân gồm hai vạt trước rộng như nhau, thường buộc vào nhau. Khi mặc áo tứ thân phải thắt lưng bằng dải lụa màu, hay các “ruột tượng” (một cái bao hình ống dài có thể đựng tiền và vài thứ lặt vặt) rồi buộc rút hai đầu lại.Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, áo dài tứ thân cũng trôi nổi nhưng vẫn tồn tại và không  bị xóa bỏ. Chịu ảnh hưởng và thay đổi theo thời gian, trong khoảng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, để có dáng dấp trang trọng và mang vẻ quyền quý hơn, phụ nữ nơi thành thị đã biến tấu kiểu áo ngũ thân từ chiếc áo dài tứ thân nhằm thể hiện sự giàu sang cũng như địa vị xã hội của người phụ nữ. Đồng thời chiếc áo ngũ thân cũng là biểu hiện của ngũ hành: Kim - Mộc - Thủy - Hỏa - Thổ. Đi theo áo tứ thân phải có chiếc yếm, cái khăn mỏ quạ, chiếc nón quai thao, góp phần tạo nên bộ “quốc phục” của quý bà thời xưa theo các chị, các em đến những nơi đình đám.
Áo tứ thân được may rộng, màu sắc đơn giản, ít họa tiết trang trí. Hình ảnh thiếu nữ mặc áo dài tứ thân ( còn gọi áo Tề Thôn, áo Xống Tràng, áo Giao Lãnh) cùng dải lụa màu với xà tích bạc thắt ngang lưng, phía trước mặc yếm lụa trắng ngà, tóc vấn đuôi gà, cổ đeo kiềng, chân mang đuôi guốc gỗ cong cong, đầu đội vành nón quai thao che nghiêng... trông rất hiền hậu, mộc mạc và duyên dáng. Hình ảnh này đã đi vào thơ ca và trở thành biểu tượng cao đẹp của người con gái Việt Nam thời xưa. Áo dài tứ thân được sử dụng khá nhiều ở nông thôn miền Bắc cho dến những năm đầu thập niên 1930.
     Áo tứ thân miền Bắc là chiếc áo dài đầu tiên của Việt Nam chỉ mặc vào dịp lễ Tết. Áo nâu với hai vạt trước buộc chéo thả xuống đi với quần lĩnh đen và thắt lưng lụa. Rồi áo tứ thân biến đổi thành áo mớ ba mớ bảy. Cổ áo cao khoảng 2cm, tay may bó khít cổ tay, chiều rộng ngực eo bằng nhau, điểm đặc biệt là ngoài hai vạt chính còn có vạt phụ (vạt con) dài sát gấu áo. Khuy áo được tết bằng vải, cài cúc cạnh sườn. Cổ áo lật chéo để lộ ba màu áo (hoặc bảy màu áo). Lớp ngoài cùng thường là lụa màu nâu hoặc the màu thâm, kế tiếp là màu mỡ gà, cánh sen, vàng chanh, hồ thủy... nhiều màu, hấp dẫn mà vẫn nền nã, kín đáo, hài hòa.
     Trang phục nữ Kinh Bắc là phải kể đến áo năm thân, may bằng the, lụa, yếm cổ viền, bao thắt lưng xanh, váy sồi rủ hình lưỡi trai, chân đi dép cong.... Tưởng như thế cũng là đủ, vậy mà còn một chi tiết nhỏ, nhưng rất quan trọng đến mức không thể thiếu, đó là "khăn vuông mỏ quạ".
Có người đã nói: Khăn mỏ quạ phải chít sao cho vừa, hợp với khuôn mặt, tạo cho khuôn mặt (khi chít khăn) như hình chiếc búp sen. Nếu chít cái Mỏ quá cao, trông nó điêu, nếu để cái Mỏ thấp quá, khuôn mặt trở lên đần, tối tăm....
Muốn chít khăn Mỏ quạ cho đẹp, trước tiên phải "biết quấn tóc trong một khăn vấn tóc, vòng tròn lại và đặt ngay ngắn lên đầu, hơi xệ và hình bầu dục về phía gáy, ghim lại". Nhưng quan trọng hơn là khăn vuông đem gấp sao cho khéo và cân đối (gấp chéo thành hình tam giác) bẻ hình mỏ quạ sao cho chính giữa đường ngôi trên đầu, bắt hai góc khăn về hai phía tai rồi thắt múi ở gáy.
Khăn vuông mỏ quạ không đơn thuần chỉ là công cụ trang phục trên đầu người thiếu nữ, mà hẳn là công việc nghệ thuật làm đẹp cần có ở người con gái Kinh Bắc còn lưu lại đến ngày nay qua loại hình nghệ thuật hát Quan họ.
Viết, đọc và nhớ lại những hình ảnh đã đi vào dĩ vãng.
(Bài viết có tham khảo tài liệu, photo trên Internet)

Thứ Hai, 6 tháng 12, 2010

Tưởng nhớ Đồng đội

 Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 16 pháo binh khi nhận lệnh tham gia chiến dịch Giải phóng Cánh đồng chum, XiêngKhoảng, Lào có hai mống nhập ngũ tại Hà nội là tôi và anh. Cùng một trung đội nên ngay khi bổ sung về, chúng tôi đã có thể quen biết nhau như từ thuở nào rồi vậy. Thạch nhỏ người, nói năng cũng nhỏ nhẹ. Khi chúng tôi nhập ngũ thì anh đã có quá trình công tác vài năm rồi. Là giáo viên nên trông anh lúc nào cũng chững chạc, ăn nói đúng mực chứ không bỗ bã như mấy thằng lính trẻ bọn tôi. Khi mấy thằng quỷ sứ chửi bậy, trêu chọc anh chỉ mỉm cười hiền lành. Tôi thường bảo anh là dân Hà nội mà hiền quá, dễ bị bắt nạt, anh bảo ai mà thèm bắt nạt tao rồi nhẹ nhàng cười. Đúng là dân Hà nội mà không quậy phá, không đánh bài “chuồn”, không chịu khó mò mẫm đi tán gái như anh thì hiếm thật. Có lẽ do anh hiền quá, có những lúc ngồi nói chuyện, anh thường kể về bà mẹ già với một tình cảm yêu thương thật đặc biệt. Nghe anh kể, mình cảm thấy như trên đời này chỉ có mẹ anh mới là một bà mẹ đích thực vậy, tấm lòng người con thương quý mẹ như anh thật đáng nể. Anh bảo nhà tao ngay gần gầm cầu Long biên, nhà tôi cũ cũng ở dưới bãi Phúc xá, hồi đó đi học đi chơi ngày nào chẳng đi qua nhà anh, thế mà hai thằng chẳng biết nhau, tiếc thật! Lại hẹn khi nào hết chiến tranh, thể nào chúng mày cũng phải về nhà tao chơi nhé. Nghe Thạch kể không biết làm sao mình lại hình dung một ngôi nhà hai tầng, nhà anh ở tầng hai, gần nhà có một cây si đã từ rất lâu đời. Hóa ra bây giờ về chơi thấy sai toét.

Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

Sự hy sinh.....(tiếp theo và hết)

 *** 
Lỗi của phi công chính và hoa tiêu chiếc 623 được chứng minh hoàn toàn. Chưa có lệnh của người chỉ huy hạ cánh, chỉ huy chiếc IL-76 đã bắt đầu vòng ngoặt thứ nhất. Ông tướng đã kéo một cách không cần thiết vòng ngoặt thứ ba với tốc độ hạ cánh 450km/h (giá mà những chiếc tiêm kích bay sau "không cuốn theo" nó), thay vì sử dụng tốc độ tiêu chuẩn của dòng máy bay IL này là 350km/h.
 Grebennikov thông báo về điểm ngoặt chuyển hướng sau 53 giây khi thực tế đã vượt qua nó phải đến 10km. Còn trạm điều hành mặt đất không thể kết nối tuyến hạ cánh-không có bất cứ một điểm để gắn kết nào-với địa hình núi rừng tại địa phương. Theo quy định đề ra với sân bay Cam Ranh, độ cao tối thiểu để bắt đầu vào hạ cánh từ đất liền là 1500m. Còn theo thiết bị hiện có trên máy bay IL-76 bay trước các máy bay Su-27 thì hạ xuống 600m.

Tượng đài SU 27 tại Cam Ranh
Đồng thời. người chỉ huy bay Arbouzov vẫn có thể đặt ông tướng còn đang bay mới gần tới Cam Ranh về đúng chỗ của mình, huống hồ ông tướng dù sao cũng không phải là chỉ huy của ông. Các chiếc đầu đàn tốp bên trái và bên phải có toàn quyền đòi hỏi lần hạ cánh thứ hai. Về nguyên tắc, bất kỳ người phi công nào đều có thể từ chối thi hành mệnh lệnh, ngay cả chiếc 606, nhưng đã không ai làm điều đó. Trong khi đó hoa tiêu chiếc IL-76 cứ nằng nặc theo ý mình và hành động như ma xui quỷ khiến.
Trường hợp này, chiếc 605 đã gặp may hơn tất cả-chỉ vì một trục trặc không đáng kể nó đã bị bỏ lại Sangana.
Sau thời gian dài điều tra, tòa án quân sự quân khu Moskva ngày 13 tháng 3 năm 1998 đã tuyên án thiếu tướng không quân Vladimir Grebennikov sáu năm tù giam, tuy nhiên ngay sau đó ông ta được ân xá. Phiên tòa đã xét hoàn cảnh của bị cáo có nhiều công lao và tặng thưởng của chính phủ và bản thân là phi công quân sự công huân của Nước Nga. Công bằng mà nói, trong thảm kịch này lỗi không phải chỉ do hành động độc đoán của Grebennikov. Như đã nhấn mạnh, trang bị kỹ thuật của sân bay Cam Ranh thời điểm lên kế hoạch và bay qua không phù hợp với yêu cầu của "Tiêu chuẩn sử dụng các sân bay quân sự" (НГВА-92). Tuy nhiên do chậm trễ, thông tin về vấn đề này từ Bộ chỉ huy không quân Hạm đội Thái Bình Dương đã không đến được với các phi công lúc đó đang ở Malaysia.
Sau khi tai nạn đã xảy ra rồi, tại tòa người ta đã sắp đặt, nhằm mục đích "biện hộ" cho sự bất lực của các nhân vật có trách nhiệm của bộ tham mưu không quân hạm đội, họ không đưa ra được những biện pháp kịp thời sửa chữa và thay thế các thiết bị kỹ thuật trên một sân bay đã từng được khai thác sử dụng từ năm 1969, vào tài liệu chính thức "Chỉ dẫn về quản lý, vận hành và khai thác bay tại khư vực sân bay Cam Ranh", về sau này tài liệu đó mới được bổ sung chỉnh sửa-siết chặt lại điều kiện khí tượng tối thiểu để khai thác bay. Từ tài liệu điều tra công bố tại phiên tòa, có thể thấy rằng việc chỉ dẫn không phù hợp cho người đứng đầu bộ phận quân quản sân bay Cam Ranh về áp dụng những thay đổi trên vào quy định vận hành khai thác chỉ được Bộ tham mưu Hạm đội Thái Bình Dương đưa ra ba ngày sau tai nạn, còn tại Bộ tham mưu không quân Hạm đội Hải quân Nga người ta chỉ biết đến quy định điều kiện khí tượng tối thiểu vào ngày 18 tháng 12. (hết)

  hình ảnh vụ tai  nạn  SU 27 trong buổi biểu diễn hàng không tại Ucraina.----->

Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

Sự hy sinh của nhóm phi công biểu diễn thuật lái cao cấp "Các tráng sỹ Nga"

Đỉnh núi Chúa, nơi các máy bay Nga gặp nạn
*** (Tiếp theo)
Có tiếng thét khẩu lệnh từ chiếc IL-76 dẫn đường: "Nâng cao gấp!"
Các hành khách đã nhìn thấy trên cửa ló sáng các bụi cây trên đỉnh núi-và khi đó chiếc đầu tiên của tốp bộ ba Su-27 vừa vặn chồm vào đỉnh núi.
604 còn gắng báo cho các chiếc sau: "Nhảy!..."-nhưng không kịp kết thúc khẩu lệnh. Hai chiếc 603 và 606 không kịp làm động tác cứu vãn tình thế.
Trong vòng ngoặt cuối cùng, mà sau đó cần phải có lệnh tản đội hình khỏi mạn chiếc IL-76, tốp bộ ba tiêm kích bên phải lúc này đang ở cao độ thấp nhất và trong tình thế nguy hiểm nhất. Bám theo chiếc chỉ huy và tuân thủ quy định bay nhóm nghiêm ngặt và giữ độ cao thấp hơn chiếc dẫn đường chỉ 2-3m, máy bay của Nikolai Gretsanov và Aleksandr Syrovyi đã đâm ngang sườn núi.
Đội bay trên Su-27UB có thể cố gắng nhảy dù. Nhưng trong trường hợp này chiếc máy bay không còn được điều khiển có thể va chạm với chiếc IL-76. Có khả năng để ngăn ngừa tai nạn của chiếc IL-76 với các hành khách trên boong, Boris Grigoriev và Aleksandr Syrovyi đã không sử dụng cơ hội thoát hiểm và đã hy sinh. Hai chiếc sau cũng không tránh được tai nạn.
601: Thoát nhanh, lên cao gấp!
602: Tôi bám theo anh, Sasa!
Các phi công có kinh nghiệm và "thuộc" nhau đã lâu, giật mạnh cần lái về mình và bay vút lên khỏi lớp mây mù.
Chiếc IL-76 may mắn trượt xuống một thung lũng nhỏ trong rặng núi, ở độ cao 32m so với mặt đất, trước khi vọt được lên cao. Các giám định viên khẳng định rằng sau khi có tín hiệu báo động, thậm chí cả khi chậm có phản ứng đúng cách trong khoảng 18-19 giây, vẫn còn đủ thời gian cho cả đội bay thoát lên độ cao an toàn. Các phi công tiêm kích thoát nạn đã kịp trấn tĩnh và chỉ hiểu được tổn thất vừa xảy ra khi đã ở trên độ cao 1500-2000m.
Chiếc dẫn đầu cặp bên trái gọi: "Số 4, số 4 đâu, số 3 đâu, số 6 đâu!". Không có trả lời. ChiếcIL-76 đã thực hiện hạ cánh chuyển tiếp trên sân bay Cam Ranh, hai chiếc Su-27 còn lại tiếp đất tại sân bay của thị xã Phan Rang-cách đó khoảng 70km về phía nam.
Máy bay Su-27 được trang bị hệ thống ghế nhảy dù ở độ cao thấp, cho phép các phi công thoát hiểm chỉ trong vài phần giây trước khi máy bay đâm xuống đất. Thậm chí khi tai nạn xảy ra trên biển thì phi công cũng có cơ hội được cứu sống. Việt Nam có một vùng biển ấm, và nếu điều đó xảy ra, ngay cả những người dân chài bị đắm thuyền không hề có phương tiện cứu hộ nào cũng vẫn cầm cự được ít nhất hai ngày đêm.
Ngay sau khi tai nạn xảy đến, các lực lượng vũ trang Việt Nam đã lùng sục sườn núi số 400 gần Cam Ranh, mà mọi người cho rằng cú va chạm đầu tiên của chiếc tiêm kích là ở đó, nhưng không tìm thấy gì. Sau đó có thông báo là đã tìm thấy mảnh vỡ của một trong ba máy bay Nga, nhưng ngay sau đó được giải thích rằng, những người dân địa phương tìm thấy mảnh xác máy bay bỏ lại từ thời chiến tranh Việt Nam.
Các mảnh xác Su-27 chỉ được tìm thấy ngày 16 tháng 12: từ trên trực thăng người ta đã phát hiện ra điểm máy bay rơi và dù treo trên cây. Sau đó đã cắt nghĩa được rằng, đó là do một trong những hệ thống ghế phóng đã hoạt động khi máy bay đâm vào đá núi, nhưng tiếc thay, không cứu nổi phi công.
Thường thì trong những tháng mùa đông ở phần cận xích đạo của Việt Nam-mùa này là mùa khô, tuy nhiên trên thực tế trời mưa suốt quá trình tìm kiếm cứu hộ, vì thế những người cứu hộ phải đốn cây mở đường trong rừng rậm nhiệt đới khá lâu để có thể đến được nơi có xác máy bay.
Thi thể của Nikolai Gretsanov và Viktor Kordioukov được tìm thấy vào ngày thứ mười một của cuộc tìm kiếm. Ba ngày trước đó đã tìm thấy một phần thi thể còn lại của thượng tá Boris Grigoriev và thiếu tá Aleksandr Syrovyi.
Tai nạn đã xảy ra ở núi Chúa, cách sân bay Cam Ranh 25km về phía tây nam. Kết quả điều tra đã buộc tội những người có lỗi trong sự hy sinh của các "tráng sỹ" là chỉ huy một trong những bộ phận quân sự đóng căn cứ tại sân bay "Tskalovskoie", thiếu tướng Grebennikov, hoa tiêu-thượng tá Kriazevskii và người chỉ huy bay từ mặt đất tại sân bay Cam Ranh-thượng tá Arbouzov.
(còn tiếp)



Màn biểu diễn của "Tráng sỹ Nga" và "Chim yên sa"
trong ngày 9 tháng 5 năm 2004 tại quảng trường Đỏ, Moskva

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010

Sự hy sinh của nhóm phi công biểu diễn thuật lái cao cấp "Các tráng sỹ Nga"

(Tiếp theo)
Grebennikov lấy hướng 280 độ-tới vòng ngoặt thứ tư, như ông đã dự tính. Thực chất, toàn đội đang ở đúng khu vực đỉnh núi, đỉnh núi khu vực này đang bị mây mù che phủ hoàn toàn. Vòng ngoặt thứ ba đã được thực hiện với độ lệch vài km. MĐ(mặt đất) không ở trong tình trạng có khả năng giúp đỡ các phi công, bởi vì màn hình máy định vị thô sơ của ông ta đầy nhiễu từ mây mù và "địa vật"-các vệt nhiễm sáng từ chính đỉnh núi đó.

Trong tình hình như vậy, MĐ cần phải phát một khẩu lệnh duy nhất tới các phi công-"Tất cả nâng độ cao gấp, không chậm trễ!", nhưng khẩu lệnh đó đã không được phát ra. Đơn giản là Arbouzov không có đủ tri thức và kinh nghiệm chỉ huy các chuyến bay trong những điều kiện phức tạp, nhất là lại chỉ có những khí tài bảo đảm thô sơ như thế.
Các máy bay đã tiến gần đến sườn núi ở độ cao 604m, cách sân bay là 25km. Nhưng như về sau các chuyên viên giám định đã đánh giá, chuỗi sai lầm chồng chất này không phải là không thể tránh được.
Khi thực hiện vòng ngoặt thứ tư, trong khoang lái IL-76 hệ thống tín hiệu phát cảnh báo về sự nguy hiểm khi đến gần địa vật. Đèn báo màu vàng nhấp nháy: "Nguy hiểm, mặt đất!", còi hiệu rít liên tục. Quy định về chỉ huy bay trong trường hợp này là phải cương quyết và nhanh chóng đưa máy bay về chế độ chiếm độ cao khẩn cấp, đưa chế độ làm việc của động cơ lên mức tối đa. Grebennikov có trách nhiệm báo cho tốp bám sát về mối nguy hiểm và các thao tác tiếp theo cần làm.
Bức tranh về những sự việc xảy ra trong khoang lái IL-76 được dựng lại vị tất đã đạt độ chính xác, bởi cuộc trao đổi giữa các thành viên phi hành đoàn không được ghi lại Tín hiệu cảnh báo liên tục phát trong 25 giây. Suốt thời gian này, Grebennikov không có hành động khả dĩ nào. Theo lời ông tướng, người đưa ông thoát ra khỏi trạng thái sốc này là phi công phụ bên tay phải, Soukhar. Chỉ từ lúc đó, viên chỉ huy mới chợt tỉnh, kéo gấp cần lái về phía mình, đưa máy bay vọt lên cao, đồng thời phát khẩu lệnh vào không trung: "Tản ra, nâng độ cao gấp lên.......năm trăm". Nhưng Grebennikov đã lỡ nhịp.
606: Chút xíu nữa tôi lạc rồi!
603: Số 4, hãy giữ vị trí dưới cánh IL-76, không sẽ lạc nhau.
Đến đỉnh núi định mệnh kia còn 350m-chỉ hơn hai phút bay.

Sự hy sinh của nhóm phi công biểu diễn thuật lái cao cấp "Các tráng sỹ Nga"

Su -27 của không quân  Nga
***
(Tiếp theo)
Tất cả sáu chiếc máy bay đều thực hiện vòng ngoặt trong mây, hạ thấp độ cao, trong khi đó vẫn giữ nguyên đội hình chặt chẽ. Sau nửa phút bay như vậy, chiếc tiêm kích đi đầu thú nhận: "Ở đây khó nhìn quá, hãy hạ xuống dưới mây đi!..."

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

Sự hy sinh của nhóm phi công biểu diễn thuật lái cao cấp "Các tráng sỹ Nga"



Su-27 - là loại máy bay tiêm kích chiến đấu độc nhất vô nhị. Sự hân hoan cuồng nhiệt khi nó xuất hiện, có lẽ chỉ có thể so sánh với làn sóng chấn động thế giới xung quanh sự kiện máy bay ném bom chiến lược "B-2 Kẻ tàng hình" xuất hiện năm 1988. Trên Su-27, các phi công Nga chỉ trong năm đầu tiên khai thác đã lập được 15 kỷ lục thế giới về hàng không. Theo các chuyên gia, máy bay Su-27 có các đặc tính kỹ thuật thuật lái cao cấp rất độc đáo chưa hề có trên thế giới.Ngày 12 tháng 12 năm 1995, ba máy bay tiêm kích Su-27 của nhóm biểu diễn thuật lái cao cấp "Các tráng sỹ Nga" đã đâm vào núi gần căn cứ Cam Ranh. Bốn phi công đã hy sinh.